Trường trung học công lập Đông Hà trong ký ức tôi

 

Binh-luan moi

Danh Muc

(Bài viết của Thầy Hoàng Đằng)

Trường trung học công lập Đông Hà

trong ký ức tôi

Lăng Tự Đức

 Thầy Phạm Đăng Thiêm, thầy Hoàng Đằng và các cựu học sinh K6.

Ảnh chụp tại lăng Tự Đức

Tôi dạy tại trường trung học Nguyễn Hoàng ở tỉnh lỵ Quảng Trị. Quê tôi là Đông Hà và gia đình tôi ở đó.

Đoạn đường Đông Hà – Quảng Trị chỉ dài 13 km, vậy mà thời ấy  việc đi lại rất khó khăn. Phương tiện riêng không có, tôi phải vô ra bằng “xe đò”. Buổi sáng, xe đò không thể chạy sớm. Ban đêm, lực lượng giải phóng đắp giữa đường một vài ụ đất, thường thấy nhất là đoạn từ cầu Lai Phước đến cầu Ái Tử; xe không dám qua, phải chờ rà mìn xong đường mới thông. Buổi chiều, xe đò cũng sớm ngừng vận chuyển vì ít khách và chủ xe sợ gặp điều “không may”; thời buổi chiến tranh mà! Trên đường chỉ có xe quân sự với hai hàng lính cầm súng chĩa ra 2 bên thành xe. Việc đi lại rắc rối như thế, tôi đã xin thuyên chuyển ra trường trung học công lập Đông Hà từ hè năm 1970.

Tôi nhận nhiệm vụ ở đây từ năm học 1970 – 1971; trường phân công dạy Pháp Văn cho một lớp 9 và Việt Văn 2 lớp 7.

Hiệu trưởng trường là thầy Phạm Đăng Thiêm, bạn học của tôi ở Viện Hán Học – Huế từ năm 1960 – 1965. Thầy là hậu duệ ngài Phạm Đăng Hưng, một đại thần đầu triều Nguyễn và cũng là ông ngoại vua Tự Đức (1847 – 1883). Xuất thân con dòng cháu giống như thế, thầy thừa hưởng trong máu thịt cốt cách con nhà quan sống tử tế: điềm tĩnh, ít nói, nhỏ nhẹ, từ tốn, xử lý công việc có lý có tình, tốt với đồng nghiệp, thương yêu đối với học sinh. Thầy có hồn thơ; thời ấy, thơ thầy có đăng rải rác trên một số tạp chí văn học ở Sài Gòn.

Trường có 6 lớp: 2 lớp 6, 2 lớp 7, 01 lớp 8 và 01 lớp 9. Học sinh là con em cư dân khu thị tứ và các làng lân cận. Gần gũi nhau, quen biết nhau và mức chênh lệch giàu nghèo không lớn, học sinh sống tình cảm với nhau, có nghịch ngợm nhưng vẫn dễ thương; đua nhau học tập như thử muốn tranh thủ cái cơ may mà mình có được trong thời buổi chiến tranh.

Cơ sở của trường là một dãy nhà lợp tôn gồm 5 phòng (?), xoay mặt về hướng đông. Bốn phòng là phòng học, còn phòng đầu hồi phía nam làm phòng “đa năng”; phòng làm việc của hiệu trưởng cũng đây, phòng hành chánh cũng đây, phòng giám thị cũng đây, phòng giáo sư cũng đây; lại còn là phòng luyện tập thể thao nữa chứ ! Hội đồng hiệu đoàn đặt một bàn ping-pong để học sinh và giáo sư luyện tập và thi đấu. Trang thiết bị chỉ có một bàn máy chữ cũ và một tủ đụng hồ sơ bằng gỗ.

Ngoài thầy hiệu trưởng, trường có 3 nhân viên văn phòng kiêm nhiệm công tác giám thị: thầy Nguyễn Đức Dục phụ trách hồ sơ nhân viên, thầy Phạm Sinh Châu phụ trách hồ sơ kế toán và thầy Cáp Đà phụ trách văn thư; trường có một lao công (phu trường) là bác Lê Đới phụ trách bảo vệ, vệ sinh phòng ốc, nước uống cho thầy cô. Trong thời gian tôi công tác, ngoài tôi ra, trường có các thầy cô sau đây: Phạm Đăng Thiêm, Lê Văn Chính, Thái Tăng Ánh, Lê Văn Đậu, Nguyễn Tài Thiết, Hồ thị Soa, Phan thị Liên Hương, Phạm Hòa Việt, Hồ Sĩ An, Lê Văn Toàn. Trước đó, có các thầy cô: Lưu Văn Thuật, Võ Văn Di, Nguyễn Thiện, Nguyễn Hiếu, Nguyễn thị Kim Oanh, Nguyễn huy Thọ, thầy … Nhiều, cô … Mùi, Ngô Khôn Liêu, Trần Duy Lộc. Giai đoạn trường ở Hòa Long và Mỹ Chánh, tôi không biết thầy cô có những ai vì tôi đã chuyển qua trường Triệu Phong ở Hòa Khánh.

Thiết kế xây dựng của trường rất đơn sơ. Tường gạch chỉ xây lên khoảng 1/3, 2/3 trên đóng khung gỗ để  thoáng, Nguyễn Đức Trực đã thi vị hóa hình ảnh này bằng câu thơ: “ …Gió luồn khung lưới vách trên vào phòng …”. Cơ sở vật chất của trường Đông Hà tệ nhất so với các trường trong tỉnh Quảng Trị thời đó.

Tỉnh Quảng Trị hồi ấy có 5 trường trung học công lập: trung học Nguyễn Hoàng ở tỉnh lỵ (mở năm 1951), trung học Gio Linh (mở năm 1959), trung học Cam Lộ, trung học Triệu Phong, trung học Hải Lăng (mở năm 1960) và trung học Đông Hà (mở năm 1962). Trường Đông Hà mở sau có lý do của nó: Thời ấy, cứ mỗi quận (huyện) có một trường trung học; Đông Hà chỉ là một thị tứ thuộc quận Cam Lộ; mãi đến năm 1968 (?), quận Đông Hà mới được lập, gồm khu thị tứ cũ, các xã Cam Thanh, Cam Giang của huyện Cam Lộ, đổi tên thành Đông Thanh, Đông Giang và các xã Triệu Lương, Triệu Lễ của quận Triệu Phong, đổi tên thành Đông Lương, Đông Lễ.

SAM_1632
Người đời thường nói: “… sinh sau đẻ muộn mất nhờ mẹ cha”. Những năm học đầu, trường mượn tạm các nơi để tổ chức các lớp học. Không có cơ sở, trường không phát triển; từ năm 1962 đến năm 1969, mỗi khối chỉ có một lớp.

Năm học 1969 – 1970, trường mới có cơ sở riêng, ổn định. “An cư lạc nghiệp”, trường Đông Hà, trong 7 năm, không an cư vậy mà vẫn lạc nghiệp, tài giỏi đáng nể! Thầy vẫn dạy tốt, trò vẫn học tốt; bằng chứng: chuyển lên bậc học đệ nhị cấp (cấp 3), học sinh trường Đông Hà vào các trường lớn không thua ai trong học tập.

Về việc xây trường, hình như nhà chức trách thời ấy không mặn mà lắm. Chiến tranh mỗi ngày mỗi dữ dội, tần số pháo kích vào thị tứ khá dày, xây trường lên sợ … oằm một cái là tiêu tan – “dã tràng xe cát. Đất đai trong thị tứ không nơi nào còn đủ rộng để xây trường; mặt tây và nam của thị tứ là căn cứ quân sự, mặt đông và bắc là ruộng đồng, làng mạc, không thuộc quyền quản lý của thị tứ, việc trưng thu, trưng mua không dễ dàng gì. Nghe nói có hồi trường định xây trên bãi rác cũ của quân đội Pháp thời chiến tranh Việt – Pháp (1946 – 1954) thuộc lãnh thổ làng Điếu Ngao nằm mạn đông quốc lộ I cách khu thị tứ khoảng 500 mét về hướng nam. Sau lại thôi, chắc không thuận tiện. Cuối cùng, trường đã xây tại sân vận động cũ của thị tứ Đông Hà. Một dãy nhà đơn sơ nằm trơ trọi giữa bãi cỏ, không cây cối gì để có bóng im , rào giậu không có, chỉ có thép gai bùng nhùng của cái đồn lính trước mặt. Đầu năm 1972, trường có xây cái cổng trông ra quốc lộ 9, tiếc là xây xong “nhìn chưa sửa con mắt” thì chạy. Dầu vậy, trường cũng mon men phát triển bậc học đệ nhị cấp (cấp 3); năm học 1971 – 1972, lớp 10 đầu tiên của trường được khai giảng.

Tội nghiệp! cơ sở trường chỉ tồn tại chưa đầy 3 năm học: 1969 – 1970; 1970 – 1971 và 1971 – 1972. Tháng 3 năm 1972, những trận đánh quyết liệt đã diễn ra trên thị tứ Đông Hà; thầy trò không kịp nói với nhau một lời chia tay, tay xách nách mang, lên đường lánh bom đạn.

Năm học 1972 – 1973, một số thầy trò tụ tập về khu tạm cư Hòa Long (Đà Nẵng) lập lại trường; dùng doanh trại quân đội Mỹ đã rút đi bỏ lại làm phòng học. Ở Đà Nẵng, gần đâu học đấy, trường nhận học sinh có quê gốc đủ các nơi trong tỉnh Quảng Trị, trường mang tên Đông Hà mà không phải Đông Hà, kiểu “nói dzậy mà không phải dzậy”. Học sinh tới lớp một tay cầm sách vở, một tay cầm ghế tự đóng để ngồi học. Đáng thương chưa!

Qua năm học 1974 – 1975, trường dời về  Mỹ Chánh; nơi đây, có một số dân quận Đông Hà cũ về định cư. Việc trường đặt tại Mỹ Chánh cũng do Sở Học Chánh Quảng Trị phân công vùng trách nhiệm giáo dục trung học khi lãnh thổ tỉnh Quảng Trị thuộc quyền chính phủ Sài Gòn bị thu nhỏ sau chiến cuộc 1972: từ bắc vô, trường Triệu Phong ở Ngô Xá, trường Hải Lăng ở Diên Sanh, trường Nguyễn Hoàng ở khu thị tứ Hải Lăng, trường Đông Hà ở Mỹ Chánh. Tháng 3 năm 1975, chiến sự tái phát dữ dội, trường giải thể. Khi tình hình tạm ổn định, phần lớn thầy và trò chuyển qua dạy và học dưới nhà trường thuộc chế độ mới.

Trường sống được 13 năm, chết đang tuổi thiếu niên – một thiếu niên “cặng cọt”. Mười năm ở Đông Hà và 3 năm lưu lạc. Trường qua 5 “triều đại” hiệu trưởng:  “triều đại” thầy NGUYỄN VĂN QUỲNH khi trường mới mở, “Triều đại” thầy Lưu Văn Thuật, “triều đại” thầy Lê Văn Di, “triều đại” thầy Nguyễn Thiện và “triều đại” thầy Phạm Đăng Thiêm. “Triều đại” thầy Thiêm lâu nhất, những 8 năm (1967 – 1975). Học sinh từ trường mà ra cũng được mấy ngàn, hiện tại  rải khắp “năm châu bốn biển”, nhiều người thành đạt trong nhiều lãnh vực khác nhau; có điều là dù đi đâu, ở đâu, làm gì, học sinh trường Đông Hà luôn giữ trong lòng hình ảnh ngôi trường tràn đầy nghĩa thầy tình bạn.

image1
Những dòng trên đây chỉ là cố gắng của tôi trong việc dựng lại chân dung trường. Tôi là kẻ đến sau, thời gian công tác ở trường chưa đầy 2 năm học : 1970 – 1971 và 1971 – 1972; lại thêm, bây giờ tuổi già, trí nhớ không tốt, chuyện kể có chi sai sót, mong quý thầy cô và các học sinh thông cảm, bổ khuyết.

Mong mọi người lên tiếng, chia xẻ những kỷ niệm về trường; ai cũng cao tuổi rồi, ôn lại chuyện cũ, âu cũng là niềm vui trong lúc nhàn rỗi!

Hoàng Đằng

31/10/2012

 

Xin go Email vao day de Truongdongha.com gui bai truc tiep den email cua ban.